Truy cập nội dung luôn

Liên kết Liên kết

Chi tiết tin


Khám phát hiện và điều trị bệnh võng mạc trẻ đẻ non
20/05/2015

Bệnh võng mạc trẻ đẻ non ( viết tắt là ROP) là một tình trạng bệnh lý của mắt thường gặp ở những trẻ đẻ non, nhẹ cân (< 1,6 kg).

Mạch máu võng mạc ở mắt là phần cuối cùng phát triển hoàn thiện cho đến khi thai nhi đủ tháng, nhưng ở nhiều đứa trẻ đẻ non những mạch máu này không được phát triển hoàn thiện, sự phát triển bất thường này có thể dẫn đến những tổn hại của võng mạc và ảnh hưởng đến thị giác của trẻ. Nếu bệnh không được phát hiện và điều trị kịp thời thì sẽ có nguy cơ mù vĩnh viễn cả hai mắt

Cho đến nay, người ta chưa xác định được chính xác yếu tố nào là nguyên nhân gây ra bệnh ROP, nhưng thở oxy nồng độc cao và kéo dài được xem là một trong những yếu tố nghi ngờ có liên quan đến bệnh ROP.

Bệnh ROP được chia ra 5 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Có sự phát triển mạch máu bất thường ở võng mạc với 1 vùng vô mạch hoàn toàn.

Giai đoạn 2: Sự phát triển mạch máu bất thường có sự xuất hiện gờ xơ dày.

Giai đoạn 3: Cấu trúc xơ phát triển vào khoang dịch kính

Giai đoạn 4: Cấu trúc xơ trong buồng dịch kính co kéo từng phần võng mạc.

Giai đoạn 5: Bong toàn bộ võng mạc.

Khi bệnh tiến triển đến ngưỡng: giai đoạn 3, tâm mạch phát triển ở 8 múi giờ không liên tục hoặc 5 múi giờ liên tục thì cần chỉ định điều trị. Ngoài ra bệnh còn có một hình thái gọi là bệnh cộng (plus disease) hình thái này rất nặng, thể hiện: mạch máu võng mạc cương tụ ngoằn ngoèo, có thể kèm tân mạch mống mắt, khi đó cần chỉ định điều trị khi bệnh ROP ở giai đoạn 2.

Để phát hiện và điều trị kịp thời bệnh ROP cần phải quan tâm tới những yếu tố: không phải tất cả trẻ đẻ non đều mắc bệnh, nhưng những trẻ sinh càng non, càng nhẹ cân (<1,6 kg) và toàn trạng ốm yếu thì nguy cơ mắc bệnh càng cao. Vì vậy, với những trẻ đẻ non, có cân nặng <1,6 kg nên được khám loại. Lần khám đầu tiên được tiến hành khi trẻ được 4 tuần sau đẻ. Nếu lần khám thứ 1 chưa thấy bệnh hoặc bệnh ở giai đoạn nhẹ thì cháu sẽ được khám lại sau 2 tuần cho tới khi cháu bé được 40 - 42 tuần tuổi (kể từ ngày thụ thai), hoặc tới khi mạch máu ở võng mạc phát triển một cách đầy đủ. Nếu khám thấy bệnh ở giai đoạn nặng hơn thì cháu sẽ được khám lại trong vòng 1 tuần để khi có chỉ định điều trị sẽ được điều trị ngay.

Để điều trị bệnh ROP có 2 phương pháp, nguyên lý chung: làm bỏng vùng võng mạc vô mạch gây ra sẹo dính phòng ngừa bong võng mạc do tiến triển của bệnh và giảm khả năng sinh tân mạch võng mạc, sử dụng phương pháp nào là do bác sỹ chỉ định phụ thuộc vào tình trạng bệnh:

Phương pháp laser: sử dụng Laser để tác động trực tiếp lên võng mạc, những chùm tia laser tập trung chính xác trên võng mạc tạo ra những nốt sẹo bỏng nhỏ trên võng mạc, chùm tia laser xuyên qua đồng tử đã được tra giãn mà không có một cản trở nào trên đường đi của tia sáng tới võng mạc. Phần thuật laser có thể được thực hiện trong phòng sơ sinh hoặc trong phòng mổ và sử  dụng gây tê tại chỗ hoặc mê toàn thân. Laser được sử dụng những bệnh võng mạc một cách an toàn và hiệu quả từ hơn 20 năm nay.

Phương pháp lạnh đông: sử dụng đầu lạnh đông để tác động gián tiếp lên võng mạc qua củng mạc. Khi làm lạnh đông cần phải phẫu tích kết mạc 3600để bộc lộ vùng củng mạc  theo yêu cầu của phẫu thuật viên để có thể đạt hiệu quả mong muốn trên võng mạc. Phẫu thuật lạnh đông có thể được thực hiện trên phòng mổ hoặc tại phòng sơ sinh và gây tê tại chỗ hoặc mê toàn thân. Sau phẫu thuật mi, kết mạc có thể bị sưng nề tạm thời.

Hiệu quả của điều trị khá tốt nếu bệnh được phát hiện sớm và cháu bé bị bệnh ở mức độ nhẹ hoặc trung bình. Nếu cháu bị nặng ngay từ đầu hoặc phát hiện bệnh quá muộn thì tất cả các phương pháp điều trị đều khó mang lại hiệu quả và nguy cơ dẫn đến mù vĩnh viễn cả 2 mắt. Nhìn chung tỷ lệ thành công khi điều trị bằng laser cũng như lạnh đông là khoảng 50%.

Thị giác trung tâm – phần thị giác hữu ích dùng cho việc đọc và nhìn chi tiết thường được bảo tồn sau điều trị laser hoặc lạnh đông nhưng phần thị giác chu biên thường bị tổn thương. Sau điều trị những trẻ bị ROP vẫn cần được theo dõi thường xuyên để phát hiện sớm những di chứng muộn của bệnh ví dụ: tật khúc xạ, lác… và có những định hướng thị giác về sau này.

Cách phòng bệnh tốt nhất là quản lý thai nhi tốt để hạn chế bị đẻ non. Còn khi đã bị đẻ non mà cân nặng trẻ thấp thì bé cần được khám mắt theo chế độ nghiêm ngặt.
 
Bs. Nguyễn Thị Thu Hiền

Văn bản mới Văn bản mới

VĂN BẢN MỚI
 Tuyên truyền phổ biến pháp luật An toàn giao thông năm học 2016-2017 ngành Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang
 Về việc triển khai công tác Thiết bị trường học năm học 2016 – 2017